Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng

Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng

Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng

Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng

Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng
Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng

Ứng dụng công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thủy canh vào nhân giống cây trồng đã được D.R Hoagland và Arnon ở trường đại học California tiến hành đầu tiên vào năm 1938. 

Bằng kỹ thuật này người ta đã điều khiển cho cây ra rễ và sinh trưởng hoàn toàn trong dung dịch dinh dưỡng. Tuy nhiên do những điều kiện kỹ thuật phức tạp (thông khí, kiểm soát hấp thu dinh dưỡng, pH của dung dịch…) công nghệ này có nhiều nhược điểm nên không được ứng dụng. Tiếp nối các công trình của L. J. Klotz (1944) M.C. Vyvyan; G.F.Trowell (1952) F.W.Went đã tiến hành trên cây có múi, cà phê, táo, cà chua và phát hiện sự ra rễ của chúng rất thuận lợi và sạch bệnh khi trồng trong điều kiện phun mù dinh dưỡng cho bộ phận dưới mặt đất. F.W.Went đã dưa ra thuật ngữ khí canh (aeroponic) để chỉ quá trình sinh trưởng của bộ rễ trong không khí. Đến năm 1970, với công nghệ nhà kính đã phát triển, các công ty hướng tới việc ứng dụng công nghệ khí canh để nhân giống cây trồng phục vụ cho mục đích thương mại. Năm 1982, Dr.Richard J. Stoner ở đại học Colorado của Mỹ lần đầu tiên đưa ra và ứng dụng thành công công nghệ khí canh để nhân giống cây trồng bằng cách sử dụng việc phun dinh dưỡng kèm chất kích thích ra rễ ngắt quãng cho phần gốc của cành giâm trong các hộp nhân giống 20 lần/giờ (Dr.Richard J. Stoner, 1983).

   

 

Công nghệ đã được tác giả liên tục nghiên cứu hoàn thiện cho phép ra đời một công nghệ mới gọi là công nghệ RPB (Rapid Propagation Biotechnology). Công nghệ này được xem như là bước đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất giống cây trồng. Các nhà nhân giống in vitro gọi kỹ thuật này là thế hệ mới của công nghệ nhân giống và cho rằng đây sẽ là phương pháp nhân giống vô tính quan trọng  của thế kỷ 21. Kỹ thuật này có thể thay thế phương pháp nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào do có lắp đặt hệ thống lọc khí canh khử trùng dung dịch và không khí buồng trồng. Toàn bộ các khâu điều khiển pH, EC, nhiệt độ của dung dịch và môi trường đều được tự động hóa bằng các phần mềm chuyên dụng. Công nghệ này là sự phối hợp giữa công nghệ sinh học, công nghệ tin học và công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hóa. Công nghệ này cho phép nhân được nhiều loại cây trồng, chu kỳ nhân giống nhanh hơn, nhiều hơn, công suất tăng 30 lần so với kỹ thuật truyền thống, loại bỏ khâu khử trùng (môi trường mẫu vật) rất phức tạp trong nuôi cấy mô, tiết kiệm lao động, giảm giá thành vật liệu, giảm giá thành. Có thể nêu ví dụ việc ứng dụng này trong sản xuất của giống khoai tây: công nghệ “Quantum TubersTM biotechnology” là công nghệ có tính cách mạng hoàn toàn, mới mẻ trong lĩnh vực sản xuất giống khoai tây. Công nghệ này cho phép sản xuất hoàn toàn chủ động trên diện tích nhỏ được lượng khổng lồ củ giống khoai tây chất lượng cao, số lượng củ giống có thể tăng từ 600%- 1400% so với giải pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô và trồng trong nhà màn. Công suất của hệ thống này lớn hơn bất kể một hệ thống sản xuất giống nào hiện có (ifo.quantum TubersTM.com). Hàng năm các loại cây trồng đã được nghiên cứu nhân giống và thương mại hóa bằng phương pháp trên. Công nghệ này rất có hiệu quả với những cây có khả năng ra rễ kém. Việc sản xuất cây giống và cà chua thương phẩm khi áp dụng công nghệ này đã rút ngắn thời gian tạo cây giống (từ 28 ngày xuống còn 10 ngày) thời gian cho thu hoạch lần đầu (từ 68 ngày xuống còn 30 ngày) qua đó làm tăng số vụ trồng/1 năm, trồng trong nhà kính từ 3,4 lên 7,7 lần/ năm.

Nguồn : Luận văn thạc sĩ Nông Nghiệp ( Trương Thị Lành)

Tin tức khác

video

ĐỐI TÁC

THƯƠNG HIỆU SỞ HỮU

backtop
Hotline: 0906 347 528
  •   MR. PHONG
    09.42.43.44.45
  •   Ms TRÚC
    0907.21.22.23